Nước, thạch, bánh bò... làm từ thốt nốt là những thức quà giản dị nhưng mang đậm dấu ấn vùng sông nước An Giang.
Miền Tây Nam Bộ không chỉ nổi danh nhờ ảnh sắc hoang sơ, hữu tình mà những “dòng sông chở nặng phù sa” còn mang đến cho người dân nơi đây thảm thực vật đa dạng, cây trái quanh năm trĩu cành. Một trong những loài cây được người An Giang nâng niu nhất là cây thốt nốt, loại cây mang lại trái ngọt quả thơm cho đời sống người dân bớt nhọc nhằn.
Giống cây dong dỏng tựa cây dừa, tán lá cong cong như lá cọ, hễ đến mùa lại trổ quả rất sai, cho cơm trắng trong ngọt mát. Vùng Châu Đốc xứ An Giang vốn tự hào về thứ quả này, đem thốt nốt chế biến thành nhiều món ăn chơi thật lạ miệng, bày bán khắp chợ để du khách nào đi ngang đều không kìm lòng ghé lại hỏi mua.
1. Trái thốt nốt
Đây là hình thức “nguyên bản” nhất của thốt nốt. Nếu đường thốt nốt được làm từ quả thốt nốt từ cây đực thì thốt nốt trồng lấy cơm là thốt nốt cái. Sau khi bổ vỏ, người ta giữ nguyên vẹn phần cơm trắng mịn, để ngoài không khí hơi ngả sang màu ngà, dùng để ăn tươi.
Dulichgo
Cơm thốt nốt thường được bán với giá trung bình 35.000 đồng một cân, khá rẻ cho một trải nghiệm ẩm thực độc đáo. Tuy nhiên, đây chưa phải là món ăn được ưa chuộng nhất từ thốt nốt.
2. Nước thốt nốt
Một trong những cách chế biến hoa quả phổ biến nhất của xứ nhiệt đới là ngâm đường. Cũng những phần cơm thốt nốt tươi đã được lột sạch vỏ, người dân Châu Đốc phủ lên nhiều lớp đường rồi để mặc cho thốt nốt ra đường, quyện vào nước đường thơm ngọt. Giữa thời tiết oi nóng ở địa phương này, khách ghé quán hỏi mua một ly thốt nốt thả thêm viên đá lạnh có giá 5.000 đồng, bao nhiêu mệt nhọc chợt tan biến.
Không đơn thuần là một thứ nước giải khát, nước thốt nốt còn mang đến cảm nhận chân thật về một vùng đất nguyên sơ, đến ẩm thực cũng giản dị như chính con người.
3. Thạch thốt nốt
Hiếm có loại thạch hoa quả nào sánh được độ tinh khiết, ngọt lành của thạch thốt nốt. Muốn xử lý món thạch thốt nốt, người dân Châu Đốc phải thực hiện nhiều công đoạn cầu kỳ nhằm cô đặc nước thốt nốt thành loại thạch giòn sật, dai dai, thấm đẫm hương vị rừng thốt nốt xanh mát ở miền Tây Nam Bộ.
Dulichgo
Làm thạch thốt nốt để nhìn thấy được thành phẩm phải trải qua ít nhất 2 tuần. Tuy vậy, biến tấu lạ lẫm này của thốt nốt trở thành một trong những sản phẩm thốt nốt bán chạy nhất, có khả năng lưu trữ lâu hơn, được người tiêu dùng khắp cả nước yêu thích nhờ hương vị thanh mát, thơm dịu.
4. Bánh bò thốt nốt
Món ăn này nghe thật lạ tai, nhưng những ai từng có cơ hội thưởng thức đều phải nhớ mãi. Chỉ 10.000 đồng một bịch bánh bò thốt nốt vàng ươm đẹp mắt, bạn sẽ từ từ cảm nhận được hương vị ngọt béo của cốt dừa, ngọt thanh của đường thốt nốt, thơm nồng của cơm rượu, đậm đà chút muối, thoảng hương bột gạo… Bột bánh chín tơi mịn, dễ ăn, dễ “nghiện”, trở thành thứ quà vặt níu chân không biết bao người.
Dulichgo
Ngày đẹp trời ghé một vòng chợ Châu Đốc, thấy thốt nốt được bày ra mẹt với đủ mọi “biến tấu” khác nhau. Người dân An Giang cười hiền lành kể, trồng thốt nốt hơn chục năm mới thu về quả ngọt, thức ngon không tự nhiên mà có. Vì vậy, bạn đừng bao giờ bỏ lỡ cơ hội thưởng thức lần lượt từng món ngon này trên chính mảnh đất quê hương thốt nốt, thưởng thức để biết rằng đất nước Việt Nam có bao nhiêu vùng miền là có bấy nhiêu nền ẩm thực độc đáo khác nhau.
Theo Congluan.vn
My life!
Thứ Ba, 20 tháng 10, 2015
Thứ Hai, 19 tháng 10, 2015
Làng nghề bún Trịnh Xá
Làng Trịnh Xá, xã Thiên Hương (huyện Thủy Nguyên) vốn nổi tiếng với nghề làm bún. Những mẻ bún nóng hổi, dẻo thơm hằng ngày được chuyển đến tay khách hàng, mang theo ước mong về cuộc sống no ấm của người dân làng nghề.
Những sợi bún tạo thương hiệu
Từ sáng sớm, người làng bún Trịnh Xá tất bật chuyển từng rổ bún giao các quán ăn, điểm bán lẻ ở các chợ lớn, nhỏ trong huyện và thành phố. Cả làng có tới một nửa số hộ duy trì nghề làm bún, trong đó phải kể đến những nhà làm bún nổi tiếng như cô Lã, ông Miền,…
Để hoàn thành mẻ bún dẻo thơm, kịp giao cho khách, người dân trong làng mất 3-5 ngày chuẩn bị. Kể về quá trình làm bún, cô Phạm Thị Lã, chủ một cơ sở làm bún chỉ ra từng công đoạn, từ chọn gạo, vo sạch, để ráo nước, ủ gạo, lặp lại quá trình vo gạo, rồi mới xay bột, đánh bột và cuối cùng là công đoạn ép tạo sợi.
Theo cô Lã, muốn để sợi bún trắng, thơm ngon đúng với thương hiệu gia truyền thì khâu chọn gạo là quan trọng nhất, quyết định 90% chất lượng bún. Gạo làm bún là gạo vê, hạt gạo trắng, đều, khô. Công đoạn ngâm, ủ gạo phải cẩn trọng, tỉ mỉ. Ủ gạo đủ 24 giờ. Trung bình, 1 kg gạo làm ra 2 kg bún. Tùy mục đích sử dụng mà người thợ điều chỉnh khâu vớt, rửa. Không đơn giản như bún rối, bún lá nhỏ dùng cho các món cuốn, bún đậu mắm tôm, nên yêu cầu người thợ phải khéo léo chụm bún nhỏ vừa miếng, bún lá to cuộn tròn để ăn cùng riêu cua. Trước khi giao cho khách, để bớt nóng, bún được đặt gọn gàng trên những kệ, người làm bún dùng tay khéo léo đảo lá bún để sợi bún không bị dính vào nhau, tơi và nhanh khô hơn.
Dulichgo
Khoảng 4-5 giờ chiều, sân nhà cô Lã tấp nập khách đến lấy bún. Từng mẻ bún được chất lên xe, đến với từng bữa ăn gia đình. Cô Lã theo nghề hơn 20 năm, gia đình cô 3 đời làm bún, là một trong những cơ sở làm bún ngon và làm với số lượng nhiều nhất làng Trịnh Xá. Hiện, cơ sở của cô chỉ sản xuất bún vào buổi chiều, mỗi ngày xuất ra thị trường 6-8 tạ bún. Chưa kể những ngày lễ, Tết, lượng bún được khách đặt hàng nhiều nên cơ sở có khi làm 1-1,2 tấn bún/ngày. Khác với xưởng làm bún của cô Lã, gia đình ông Đồng Văn Miền và nhiều nhà làm bún trong xã dậy từ 1-2 giờ sáng để làm mẻ bún đầu tiên. Ông Miền cho biết: “Muộn nhất là 5 giờ sáng, phải làm xong bún để giao các mối hàng trong xã, huyện và khu vực nội thành. Như thế, bún khi chuyển đến tay khách hàng vẫn còn nóng hổi. Để đỡ vất vả, bảo đảm chất lượng bún, tôi đầu tư gần 100 triệu đồng mua máy xay, nhào bột, ép bún”.
Tảo tần nghề làm bún
Dulichgo
Nghề làm bún đòi hỏi sự cẩn thận ngay từ những khâu đầu. Mỗi mẻ bún ra lò nhất thiết phải đạt được độ trắng, dẻo, chín đúng lúc mà chỉ những người gắn bó với công việc này mới có thể hiểu rõ. Thoạt nhìn những sợi bún được ép từ máy ra, người làm chỉ cần tạo thành con bún. Công việc tưởng chừng nhẹ nhàng, nhưng bắt tay vào làm mới thấu hiểu được sự vất vả.
Người làm bún thường xuyên phải tiếp xúc với máy xay, nước nóng, khói bụi từ than, ảnh hưởng đến sức khỏe. Thời gian nghỉ ngơi ngắn, những giấc ngủ của người thợ không trọn vẹn do nửa đêm phải dậy ép bún, vớt bún đến sáng. Đầu giờ chiều, người làm nghề phải vo gạo, để ráo nước, cho vào ủ, lại lấy gạo ủ ra vo, xay,… cho công đoạn tiếp theo.
Giữa năm 2013 vừa qua, thông tin bún chứa chất tẩy trắng tinopal gây ung thư khiến người làm nghề ở làng Trịnh Xá gặp khó khăn lớn. Thông tin lan truyền nhanh chóng, kéo theo sức mua giảm, ảnh hưởng không nhỏ đến các hộ sản xuất. Ông Miền cho biết: “Mỗi ngày, gia đình tôi làm khoảng 5-6 tạ bún, nhưng khi có thông tin bún chứa chất độc hại, lượng hàng sụt xuống 3-4 tạ”. Nhưng với thương hiệu được tạo dựng từ lâu, chất lượng sản phẩm bảo đảm, cùng với tâm huyết người làm nghề, bún Trịnh Xá vẫn giữ được lòng tin với khách hàng.
Đến làng Trịnh Xá hôm nay, diện mạo làng quê đang thay đổi từng ngày nhờ nghề làm bún truyền thống. Nhiều ngôi nhà khang trang mọc lên, đời sống người dân nâng lên. Cũng nhờ làm bún, nhiều người dân trong xã có việc làm và thu nhập ổn định. Như cơ sở làm bún của cô Lã, ngày thường cô phải thuê 2-3 người, còn ngày tết thuê 5 người mới làm hết việc. Làm 3-4 giờ, cô trả lương cho người làm 100.000 đồng/ngày. Đến Thủy Nguyên, nhiều người ấn tượng với món cuốn, một món ăn được làm từ nhiều loại thực phẩm, nhưng không thể thiếu món bún do chính người dân Trịnh Xá làm ra.
Dulichgo
Nghề làm bún không có ngày nghỉ, thậm chí cả mồng 1 Tết. Những ngày này, nhiều nhà chuẩn bị nhập gạo để chuẩn bị làm bún phục vụ người dân dịp Tết Nguyên đán. “Tiếng lành đồn xa”, nhờ đó mà bún Trịnh Xá vẫn giữ được chỗ đứng trên thị trường. Tuy vậy, do công việc vất vả nên nhiều gia đình không còn tiếp tục làm nghề. Dù có nhiều thiết bị hỗ trợ, nhưng lá bún làm bằng tay vẫn được người dùng khen ngợi. Hy vọng những gia đình như cô Lã, ông Miền… tiếp nối và lưu giữ nghề truyền thống, để bún phố Trịnh còn mãi thương hiệu.
Theo Dung Huế – Báo Hải Phòng
My life!
Những sợi bún tạo thương hiệu
Từ sáng sớm, người làng bún Trịnh Xá tất bật chuyển từng rổ bún giao các quán ăn, điểm bán lẻ ở các chợ lớn, nhỏ trong huyện và thành phố. Cả làng có tới một nửa số hộ duy trì nghề làm bún, trong đó phải kể đến những nhà làm bún nổi tiếng như cô Lã, ông Miền,…
Để hoàn thành mẻ bún dẻo thơm, kịp giao cho khách, người dân trong làng mất 3-5 ngày chuẩn bị. Kể về quá trình làm bún, cô Phạm Thị Lã, chủ một cơ sở làm bún chỉ ra từng công đoạn, từ chọn gạo, vo sạch, để ráo nước, ủ gạo, lặp lại quá trình vo gạo, rồi mới xay bột, đánh bột và cuối cùng là công đoạn ép tạo sợi.
Theo cô Lã, muốn để sợi bún trắng, thơm ngon đúng với thương hiệu gia truyền thì khâu chọn gạo là quan trọng nhất, quyết định 90% chất lượng bún. Gạo làm bún là gạo vê, hạt gạo trắng, đều, khô. Công đoạn ngâm, ủ gạo phải cẩn trọng, tỉ mỉ. Ủ gạo đủ 24 giờ. Trung bình, 1 kg gạo làm ra 2 kg bún. Tùy mục đích sử dụng mà người thợ điều chỉnh khâu vớt, rửa. Không đơn giản như bún rối, bún lá nhỏ dùng cho các món cuốn, bún đậu mắm tôm, nên yêu cầu người thợ phải khéo léo chụm bún nhỏ vừa miếng, bún lá to cuộn tròn để ăn cùng riêu cua. Trước khi giao cho khách, để bớt nóng, bún được đặt gọn gàng trên những kệ, người làm bún dùng tay khéo léo đảo lá bún để sợi bún không bị dính vào nhau, tơi và nhanh khô hơn.
Dulichgo
Khoảng 4-5 giờ chiều, sân nhà cô Lã tấp nập khách đến lấy bún. Từng mẻ bún được chất lên xe, đến với từng bữa ăn gia đình. Cô Lã theo nghề hơn 20 năm, gia đình cô 3 đời làm bún, là một trong những cơ sở làm bún ngon và làm với số lượng nhiều nhất làng Trịnh Xá. Hiện, cơ sở của cô chỉ sản xuất bún vào buổi chiều, mỗi ngày xuất ra thị trường 6-8 tạ bún. Chưa kể những ngày lễ, Tết, lượng bún được khách đặt hàng nhiều nên cơ sở có khi làm 1-1,2 tấn bún/ngày. Khác với xưởng làm bún của cô Lã, gia đình ông Đồng Văn Miền và nhiều nhà làm bún trong xã dậy từ 1-2 giờ sáng để làm mẻ bún đầu tiên. Ông Miền cho biết: “Muộn nhất là 5 giờ sáng, phải làm xong bún để giao các mối hàng trong xã, huyện và khu vực nội thành. Như thế, bún khi chuyển đến tay khách hàng vẫn còn nóng hổi. Để đỡ vất vả, bảo đảm chất lượng bún, tôi đầu tư gần 100 triệu đồng mua máy xay, nhào bột, ép bún”.Tảo tần nghề làm bún
Dulichgo
Nghề làm bún đòi hỏi sự cẩn thận ngay từ những khâu đầu. Mỗi mẻ bún ra lò nhất thiết phải đạt được độ trắng, dẻo, chín đúng lúc mà chỉ những người gắn bó với công việc này mới có thể hiểu rõ. Thoạt nhìn những sợi bún được ép từ máy ra, người làm chỉ cần tạo thành con bún. Công việc tưởng chừng nhẹ nhàng, nhưng bắt tay vào làm mới thấu hiểu được sự vất vả.
Người làm bún thường xuyên phải tiếp xúc với máy xay, nước nóng, khói bụi từ than, ảnh hưởng đến sức khỏe. Thời gian nghỉ ngơi ngắn, những giấc ngủ của người thợ không trọn vẹn do nửa đêm phải dậy ép bún, vớt bún đến sáng. Đầu giờ chiều, người làm nghề phải vo gạo, để ráo nước, cho vào ủ, lại lấy gạo ủ ra vo, xay,… cho công đoạn tiếp theo.Giữa năm 2013 vừa qua, thông tin bún chứa chất tẩy trắng tinopal gây ung thư khiến người làm nghề ở làng Trịnh Xá gặp khó khăn lớn. Thông tin lan truyền nhanh chóng, kéo theo sức mua giảm, ảnh hưởng không nhỏ đến các hộ sản xuất. Ông Miền cho biết: “Mỗi ngày, gia đình tôi làm khoảng 5-6 tạ bún, nhưng khi có thông tin bún chứa chất độc hại, lượng hàng sụt xuống 3-4 tạ”. Nhưng với thương hiệu được tạo dựng từ lâu, chất lượng sản phẩm bảo đảm, cùng với tâm huyết người làm nghề, bún Trịnh Xá vẫn giữ được lòng tin với khách hàng.
Đến làng Trịnh Xá hôm nay, diện mạo làng quê đang thay đổi từng ngày nhờ nghề làm bún truyền thống. Nhiều ngôi nhà khang trang mọc lên, đời sống người dân nâng lên. Cũng nhờ làm bún, nhiều người dân trong xã có việc làm và thu nhập ổn định. Như cơ sở làm bún của cô Lã, ngày thường cô phải thuê 2-3 người, còn ngày tết thuê 5 người mới làm hết việc. Làm 3-4 giờ, cô trả lương cho người làm 100.000 đồng/ngày. Đến Thủy Nguyên, nhiều người ấn tượng với món cuốn, một món ăn được làm từ nhiều loại thực phẩm, nhưng không thể thiếu món bún do chính người dân Trịnh Xá làm ra.
Dulichgo
Nghề làm bún không có ngày nghỉ, thậm chí cả mồng 1 Tết. Những ngày này, nhiều nhà chuẩn bị nhập gạo để chuẩn bị làm bún phục vụ người dân dịp Tết Nguyên đán. “Tiếng lành đồn xa”, nhờ đó mà bún Trịnh Xá vẫn giữ được chỗ đứng trên thị trường. Tuy vậy, do công việc vất vả nên nhiều gia đình không còn tiếp tục làm nghề. Dù có nhiều thiết bị hỗ trợ, nhưng lá bún làm bằng tay vẫn được người dùng khen ngợi. Hy vọng những gia đình như cô Lã, ông Miền… tiếp nối và lưu giữ nghề truyền thống, để bún phố Trịnh còn mãi thương hiệu.
Theo Dung Huế – Báo Hải Phòng
My life!
Chùa Bửu Nghiêm - Pleiku
Chùa Bửu Nghiêm tọa lạc ở số 4 đường Lý Thái Tổ, thành phố Pleiku - tỉnh Gia Lai (cách chợ Mới khoảng 200m về hướng tây). Chùa thuộc hệ phái Bắc tông. Ngôi chùa đang dần thu hút được nhiều du khách biết đến bởi vẻ cổ kính và thanh tịnh.
< Cổng ngoài chùa Bửu Nghiêm.
Chùa được xây dựng trên diện tích 3.565 mét vuông vào năm 1964. Chùa đã được nhiều lần trùng tu như trùng tu ngôi chánh điện và quy mô nhất là trùng tu vào năm 2004.
Cổng Chùa Bửu Nghiêm gồm có cổng chính và cổng phụ. Cổng phụ nằm bên trái cổng chính. Du khách bước vào sẽ nhìn thấy cổng tam quan. Cột cổng làm bằng bê tông. Cửa được làm bằng sắt khá kiên cố. Trên cổng tam quan có hai cặp câu đối sơn nền vàng, chữ đỏ nổi bật.
Dulichgo
Toà tam bảo có kiến trúc ba tầng mái. Khuôn viên bên ngoài có hai tầng tháp hai bên, tháp bên phải bên trong có quả chuông nặng một tấn cao 1,60 m được đúc vào năm 1974.
Du khách có thể chiêm bái Phật Bà Quan Âm đứng giữa khuôn viên chùa. Tượng cao khoảng 2m đặt giữa khuôn viên khiến cho không khí càng thêm trầm lặng.
Trong tầng một của chùa là nơi nhà thờ tổ, nơi thờ Tổ Sư Đạt Ma cùng các vị Linh Nam và Linh Nữ. Tượng Phật Chuẩn đề Vương Bồ tát với 18 tay, được thờ ở vị trí chính giữa tầng gồm tượng đức Phật Thích Ca ở giữa và hai tượng Bồ tát Văn Thù, Bồ tát Phổ Hiền ở hai bên.
Phía trước, tôn trí bộ tượng Di Đà Tam Tôn (đức Phật A Di Đà, Bồ tát Quan Thế Âm và Bồ tát Đại Thế Chí). Trên tầng hai có chánh điện rộng dành để thuyết pháp cho các phật tử vào những ngày lễ, ngày vía các chư Phật, tổ sư.
Dulichgo
Du khách đến Chùa Bửu Nghiêm nên chọn ngày 15/4 âm lịch cho đến ngày Lễ Vu Lan 15/7 âm lịch. Vì theo lời Phật dạy, trong ba tháng mùa mưa, người xuất gia phải chuyên tâm lo việc học hành, tụng niệm. Họ phải cấm túc một nơi nếu có duyên sự quan trọng mới được phép ra ngoài. Đây là truyền thống rất có giá trị của nhà Phật.
Chùa Bửu Nghiêm đã đóng góp nhiều công tác phật sự quan trọng cho phật giáo tỉnh nhà. Hiện tại do Đại đức Thích Quang Phúc trụ trì. Có dịp du lịch Gia Lai, bạn hãy dành ít phút ghé chân nơi chùa Bửu Nghiêm để vừa thắp nén hương cúng bái, lại vừa có không gian trong lành để tịnh tâm, rũ lớp bụi bặm của phố thị xô bồ, tìm lại khoảnh khắc an lành quý giá cho tâm hồn.
My life! tổng hợp
< Cổng ngoài chùa Bửu Nghiêm.
Chùa được xây dựng trên diện tích 3.565 mét vuông vào năm 1964. Chùa đã được nhiều lần trùng tu như trùng tu ngôi chánh điện và quy mô nhất là trùng tu vào năm 2004.
Cổng Chùa Bửu Nghiêm gồm có cổng chính và cổng phụ. Cổng phụ nằm bên trái cổng chính. Du khách bước vào sẽ nhìn thấy cổng tam quan. Cột cổng làm bằng bê tông. Cửa được làm bằng sắt khá kiên cố. Trên cổng tam quan có hai cặp câu đối sơn nền vàng, chữ đỏ nổi bật.
Dulichgo
Toà tam bảo có kiến trúc ba tầng mái. Khuôn viên bên ngoài có hai tầng tháp hai bên, tháp bên phải bên trong có quả chuông nặng một tấn cao 1,60 m được đúc vào năm 1974.
Du khách có thể chiêm bái Phật Bà Quan Âm đứng giữa khuôn viên chùa. Tượng cao khoảng 2m đặt giữa khuôn viên khiến cho không khí càng thêm trầm lặng.
Trong tầng một của chùa là nơi nhà thờ tổ, nơi thờ Tổ Sư Đạt Ma cùng các vị Linh Nam và Linh Nữ. Tượng Phật Chuẩn đề Vương Bồ tát với 18 tay, được thờ ở vị trí chính giữa tầng gồm tượng đức Phật Thích Ca ở giữa và hai tượng Bồ tát Văn Thù, Bồ tát Phổ Hiền ở hai bên.
Phía trước, tôn trí bộ tượng Di Đà Tam Tôn (đức Phật A Di Đà, Bồ tát Quan Thế Âm và Bồ tát Đại Thế Chí). Trên tầng hai có chánh điện rộng dành để thuyết pháp cho các phật tử vào những ngày lễ, ngày vía các chư Phật, tổ sư.
Dulichgo
Du khách đến Chùa Bửu Nghiêm nên chọn ngày 15/4 âm lịch cho đến ngày Lễ Vu Lan 15/7 âm lịch. Vì theo lời Phật dạy, trong ba tháng mùa mưa, người xuất gia phải chuyên tâm lo việc học hành, tụng niệm. Họ phải cấm túc một nơi nếu có duyên sự quan trọng mới được phép ra ngoài. Đây là truyền thống rất có giá trị của nhà Phật.
Chùa Bửu Nghiêm đã đóng góp nhiều công tác phật sự quan trọng cho phật giáo tỉnh nhà. Hiện tại do Đại đức Thích Quang Phúc trụ trì. Có dịp du lịch Gia Lai, bạn hãy dành ít phút ghé chân nơi chùa Bửu Nghiêm để vừa thắp nén hương cúng bái, lại vừa có không gian trong lành để tịnh tâm, rũ lớp bụi bặm của phố thị xô bồ, tìm lại khoảnh khắc an lành quý giá cho tâm hồn.
My life! tổng hợp
Có một mùa hoa cúc ở Đồng Văn
(TTO) - Trong khi các diễn đàn, mạng xã hội đang “sốt xình xịch” vì hoa tam giác mạch trên Đồng Văn thì nhiều “người tình” của cao nguyên đá lại đang nhớ một loài hoa khác. Tháng mười ở đây còn có một mùa hoa cúc.
Đồng bào trên cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang) không trồng hoa cúc. Ấy thế mà cứ đến mùa thu tháng mười, khi bắp ngô được gùi về nhà bỏ lại trên đồng những đụn ra phơi khô lại là mùa hoa cúc dại cựa mình.
Lặng lẽ ủ mầm rồi một ngày bừng lên dữ dội xen kẽ giữa lô nhô đá tai mèo, một ngày bất ngờ khiến bao khách qua đường phải ngẩn ngơ.
< Cúc dại mọc giữa cánh đồng tam giác mạch hút hồn người lãng khách.
Cúc cam không có giá trị nông sản như tam giác mạch, nhưng sức nặng “bỏ bùa” dân đi thậm chí có phần mạnh hơn nhiều bởi tính chất hoang dại, tự do, và sức sống mãnh liệt đến lạ lùng của loài hoa phương bắc.
< Trẻ em cao nguyên đá với hoa cúc cam.
Hoa cúc dại lang thang và có mặt ở khắp các triền núi trên cao nguyên đá, giữa những hốc đá, lẫn lộn với tam giác mạch, với hoa thun tu và vô số cỏ cây không tên khác.
Dulichgo
Nhiều nơi hoa cúc chen chân và kề bên nhau tạo thành một thảm hoa rực rỡ đến mê hồn. Bên cạnh con đường chơi vơi lưng trời với tiền cảnh, hậu cảnh là núi non hùng vĩ, hoa cúc dại điểm tô cho bức tranh cao nguyên thêm lộng lẫy và có vẻ gì như hoang đường.
< Bọn trẻ ở Sủng Là với trò chơi tung hoa.
Còn hoang đường hơn khi chúng tôi dừng chân ở Sủng Là, nơi bọn trẻ đang nô đùa trên những nương hoa. Đám trẻ đang chơi trò tung hoa, mỗi đứa một nắm bông cúc dại, vừa tung lên trời vừa ngửa mặt cười như nắc nẻ.
Xong chúng lại xúm vào nhặt mớ hoa rơi trên đường để chơi tiếp.
< Sắc màu trên cao nguyên đá.
Dulichgo
Mấy đứa bé hơn thì ngồi lại trên vệ đường, với ôm hoa cúc vàng rực ánh cam trong tay, thỉnh thoảng lại thấy mấy đứa lớn hơn nhảy chân sáo trên những mỏm đá tai mèo để hái về đầy tay một ôm hoa mới.
Có lúc bạn tôi hốt hoảng kêu lên: “Các em ơi, đừng hái nữa, kẻo núi hết mất hoa”!
< Hoa nở quấn quýt trên đường đi về nhà.
Chiều Sủng Là lành lạnh hơi sương, thung lũng trong lòng đá xám len lỏi khói cơm chiều bên hàng sa mộc. Ai đó hối hả đi về nhà, chỉ còn bọn trẻ đang chơi đùa trên nương đá, tiếng cười trong trẻo, giòn tan, những đóa cúc dại màu cam làm ấm lòng người lữ khách.
Ở đó không chỉ có những cánh đồng tam giác mạch.
Còn có một mùa hoa cúc ở Đồng Văn.
Theo Thủy Trần (Tuổi Trẻ)
My life!
Đồng bào trên cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang) không trồng hoa cúc. Ấy thế mà cứ đến mùa thu tháng mười, khi bắp ngô được gùi về nhà bỏ lại trên đồng những đụn ra phơi khô lại là mùa hoa cúc dại cựa mình.
Lặng lẽ ủ mầm rồi một ngày bừng lên dữ dội xen kẽ giữa lô nhô đá tai mèo, một ngày bất ngờ khiến bao khách qua đường phải ngẩn ngơ.
< Cúc dại mọc giữa cánh đồng tam giác mạch hút hồn người lãng khách.
Cúc cam không có giá trị nông sản như tam giác mạch, nhưng sức nặng “bỏ bùa” dân đi thậm chí có phần mạnh hơn nhiều bởi tính chất hoang dại, tự do, và sức sống mãnh liệt đến lạ lùng của loài hoa phương bắc.
< Trẻ em cao nguyên đá với hoa cúc cam.
Hoa cúc dại lang thang và có mặt ở khắp các triền núi trên cao nguyên đá, giữa những hốc đá, lẫn lộn với tam giác mạch, với hoa thun tu và vô số cỏ cây không tên khác.
Dulichgo
Nhiều nơi hoa cúc chen chân và kề bên nhau tạo thành một thảm hoa rực rỡ đến mê hồn. Bên cạnh con đường chơi vơi lưng trời với tiền cảnh, hậu cảnh là núi non hùng vĩ, hoa cúc dại điểm tô cho bức tranh cao nguyên thêm lộng lẫy và có vẻ gì như hoang đường.
< Bọn trẻ ở Sủng Là với trò chơi tung hoa.
Còn hoang đường hơn khi chúng tôi dừng chân ở Sủng Là, nơi bọn trẻ đang nô đùa trên những nương hoa. Đám trẻ đang chơi trò tung hoa, mỗi đứa một nắm bông cúc dại, vừa tung lên trời vừa ngửa mặt cười như nắc nẻ.
Xong chúng lại xúm vào nhặt mớ hoa rơi trên đường để chơi tiếp.
< Sắc màu trên cao nguyên đá.
Dulichgo
Mấy đứa bé hơn thì ngồi lại trên vệ đường, với ôm hoa cúc vàng rực ánh cam trong tay, thỉnh thoảng lại thấy mấy đứa lớn hơn nhảy chân sáo trên những mỏm đá tai mèo để hái về đầy tay một ôm hoa mới.
Có lúc bạn tôi hốt hoảng kêu lên: “Các em ơi, đừng hái nữa, kẻo núi hết mất hoa”!
< Hoa nở quấn quýt trên đường đi về nhà.
Chiều Sủng Là lành lạnh hơi sương, thung lũng trong lòng đá xám len lỏi khói cơm chiều bên hàng sa mộc. Ai đó hối hả đi về nhà, chỉ còn bọn trẻ đang chơi đùa trên nương đá, tiếng cười trong trẻo, giòn tan, những đóa cúc dại màu cam làm ấm lòng người lữ khách.
Ở đó không chỉ có những cánh đồng tam giác mạch.
Còn có một mùa hoa cúc ở Đồng Văn.
Theo Thủy Trần (Tuổi Trẻ)
My life!
Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2015
Yên bình cao nguyên Đăk Nông
Đăk Nông là cao nguyên xanh đầy nắng gió, khí hậu mát mẻ và chan hòa, được bao bọc bởi những đồi cà phê, cao su bạt ngàn.
< Cung đường đổ xuống dốc Cù Trỏ để vào làng H’mông.
Nằm ở cuối của dãy Trường Sơn, Đăk Nông có bình nguyên rộng lớn với độ cao trung bình 500 m so với mực nước biển, phía nam là khu vực nhiều đồng bằng với những đầm hồ, thác nước chảy hùng vĩ. Từ TP HCM, bạn sẽ mất khoảng 6 tiếng di chuyển, băng qua các cung đường đèo đất đỏ, khúc khuỷu, lên xuống để đến vùng đất mênh mông núi rừng trên cao nguyên Đăk Nông.
Bình yên ngôi làng dân tộc H’mông
< Phiên chợ của đồng bào Mông ở cụm dân cư Đắk Nang, xã Đắk Som (Đắk Glong).
Đèo Cùi Trỏ là đoạn đường khá chênh vênh và dốc với chiều dài khoảng 1,5 km, có những đoạn gấp khúc rất hẹp như khuỷu tay. Đèo Cùi Trỏ thuộc xã Đăk Nang, huyện Krông Nô, nơi tập trung phần lớn cộng đồng dân tộc H’mông sinh sống trong một ngôi làng nằm tách biệt và ẩn sâu dưới chân núi. Ngôi làng được bao phủ một mảng xanh của đồi cà phê, cao su trên cao nguyên, hai bên đường đi là những ngôi nhà bưng ván mái tranh khá đơn sơ và giản dị như chính vẻ ngoài của người dân tộc thiểu số.
Đến đây, du khách có thể cảm nhận được vẻ đẹp hoang sơ tựa bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp ẩn mình dưới ngọn đồi cao su bạt ngàn, cà phê nặng trĩu hạt đang chuyển màu đỏ rực khắp các sườn đồi đất đỏ bazan, báo hiệu mùa thu hoạch bắt đầu.
< Những ngôi nhà bưng ván nằm ngay dưới chân núi.
Dulichgo
Nếu đi vào mùa thu hoạch cà phê thì bạn có thể thấy rõ hơn sự nhộn nhịp của người dân khi thời điểm vào mùa tới, khiến nơi đây sống động, đầy ắp tiếng cười đùa của trẻ em cũng như người lớn lan tỏa khắp các sườn đồi. Bạn có thể dạo quanh những vườn cà phê để chiêm ngưỡng sắc màu đỏ tím của cà phê đang trong mùa chín rộ hay đơn giản có thể tận mắt thấy kỷ thuật sơ chế hạt cà phê theo cách truyền thống của dân tộc H’mông.
Trong hành trình khám phá vùng đất đỏ bazan, nếu du khách đến đây vào dịp diễn ra lễ hội “Vào mùa” của người dân H’mông sẽ chứng kiến được vẻ vui nhộn, thú vị của dân bản địa. Cũng giống như lễ hội của người Ê đê, người H’mông mỗi khi dịp này ai nấy đều tụ họp, tham gia góp thức ăn, đồ uống từ mỗi gia đình, các loại rượu như rượu cần, rượu kê, bo bo… tất cả được chuẩn bị để phục vụ cho lễ hội. Vào ngày này, dân tộc H’mông luôn vui vẻ, say sưa nhảy múa cùng giai điệu cồng chiêng truyền thống, những bài hát dân ca được thể hiện bằng những nhạc cụ dân tộc như sáo, kèn lá, khèn… dưới ánh lửa bập bùng vang ngân thanh thoát nơi núi rừng.
Hòn đảo Tà Đùng ẩn mình sau núi
Ẩn mình sau dãy núi nối liền cao nguyên Đăk Nông - Di Linh, hồ Tà Đùng được biết đến là “vịnh Hạ Long trong lòng Tây Nguyên”, nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng nối liền hai xã Đăk P’Lao và Đăk Som. Với 36 hòn đảo lớn nhỏ, tuyệt tác lưng chừng nơi núi rừng cao nguyên nằm tách biệt với hầu hết thế giới bên ngoài nên nơi đây mang vẻ đẹp hoang sơ, cuốn hút.
Dulichgo
< Vẻ đẹp của hồ Tà Đùng nhìn từ trên cao.
Những dòng suối, thác nước hấp dẫn, kỳ bí với nguồn nước trong xanh, mát lạnh như suối Đăk N’Teng, Đăk P’Lao, thác 7 tầng, thác mặt trời… chảy về hồ Tà Đùng như tô thêm vẻ đẹp kỳ vĩ cho làn nước trên hồ.
Đứng trên đỉnh cao nguyên nhìn xuống, bạn sẽ được thu vào tầm mắt toàn bộ phong cảnh núi non hữu tình nơi miền sơn cước, thấp thoáng những mái nhà sàn nằm trải dọc xung quanh hồ, ẩn hiện theo những đám mây chao lượn trên bầu trời, cảnh quan ngoạn mục nơi cao nguyên kỳ vĩ làm xao xuyến lòng người, mê đắm và cuốn hút không ít lữ khách khi ngang qua đây.
Theo Hoàng Thương (Ngôi Sao)
My life!
< Cung đường đổ xuống dốc Cù Trỏ để vào làng H’mông.
Nằm ở cuối của dãy Trường Sơn, Đăk Nông có bình nguyên rộng lớn với độ cao trung bình 500 m so với mực nước biển, phía nam là khu vực nhiều đồng bằng với những đầm hồ, thác nước chảy hùng vĩ. Từ TP HCM, bạn sẽ mất khoảng 6 tiếng di chuyển, băng qua các cung đường đèo đất đỏ, khúc khuỷu, lên xuống để đến vùng đất mênh mông núi rừng trên cao nguyên Đăk Nông.
Bình yên ngôi làng dân tộc H’mông
< Phiên chợ của đồng bào Mông ở cụm dân cư Đắk Nang, xã Đắk Som (Đắk Glong).
Đèo Cùi Trỏ là đoạn đường khá chênh vênh và dốc với chiều dài khoảng 1,5 km, có những đoạn gấp khúc rất hẹp như khuỷu tay. Đèo Cùi Trỏ thuộc xã Đăk Nang, huyện Krông Nô, nơi tập trung phần lớn cộng đồng dân tộc H’mông sinh sống trong một ngôi làng nằm tách biệt và ẩn sâu dưới chân núi. Ngôi làng được bao phủ một mảng xanh của đồi cà phê, cao su trên cao nguyên, hai bên đường đi là những ngôi nhà bưng ván mái tranh khá đơn sơ và giản dị như chính vẻ ngoài của người dân tộc thiểu số.
Đến đây, du khách có thể cảm nhận được vẻ đẹp hoang sơ tựa bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp ẩn mình dưới ngọn đồi cao su bạt ngàn, cà phê nặng trĩu hạt đang chuyển màu đỏ rực khắp các sườn đồi đất đỏ bazan, báo hiệu mùa thu hoạch bắt đầu.
< Những ngôi nhà bưng ván nằm ngay dưới chân núi.
Dulichgo
Nếu đi vào mùa thu hoạch cà phê thì bạn có thể thấy rõ hơn sự nhộn nhịp của người dân khi thời điểm vào mùa tới, khiến nơi đây sống động, đầy ắp tiếng cười đùa của trẻ em cũng như người lớn lan tỏa khắp các sườn đồi. Bạn có thể dạo quanh những vườn cà phê để chiêm ngưỡng sắc màu đỏ tím của cà phê đang trong mùa chín rộ hay đơn giản có thể tận mắt thấy kỷ thuật sơ chế hạt cà phê theo cách truyền thống của dân tộc H’mông.
Trong hành trình khám phá vùng đất đỏ bazan, nếu du khách đến đây vào dịp diễn ra lễ hội “Vào mùa” của người dân H’mông sẽ chứng kiến được vẻ vui nhộn, thú vị của dân bản địa. Cũng giống như lễ hội của người Ê đê, người H’mông mỗi khi dịp này ai nấy đều tụ họp, tham gia góp thức ăn, đồ uống từ mỗi gia đình, các loại rượu như rượu cần, rượu kê, bo bo… tất cả được chuẩn bị để phục vụ cho lễ hội. Vào ngày này, dân tộc H’mông luôn vui vẻ, say sưa nhảy múa cùng giai điệu cồng chiêng truyền thống, những bài hát dân ca được thể hiện bằng những nhạc cụ dân tộc như sáo, kèn lá, khèn… dưới ánh lửa bập bùng vang ngân thanh thoát nơi núi rừng.
Hòn đảo Tà Đùng ẩn mình sau núi
Ẩn mình sau dãy núi nối liền cao nguyên Đăk Nông - Di Linh, hồ Tà Đùng được biết đến là “vịnh Hạ Long trong lòng Tây Nguyên”, nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng nối liền hai xã Đăk P’Lao và Đăk Som. Với 36 hòn đảo lớn nhỏ, tuyệt tác lưng chừng nơi núi rừng cao nguyên nằm tách biệt với hầu hết thế giới bên ngoài nên nơi đây mang vẻ đẹp hoang sơ, cuốn hút.
Dulichgo
< Vẻ đẹp của hồ Tà Đùng nhìn từ trên cao.
Những dòng suối, thác nước hấp dẫn, kỳ bí với nguồn nước trong xanh, mát lạnh như suối Đăk N’Teng, Đăk P’Lao, thác 7 tầng, thác mặt trời… chảy về hồ Tà Đùng như tô thêm vẻ đẹp kỳ vĩ cho làn nước trên hồ.
Đứng trên đỉnh cao nguyên nhìn xuống, bạn sẽ được thu vào tầm mắt toàn bộ phong cảnh núi non hữu tình nơi miền sơn cước, thấp thoáng những mái nhà sàn nằm trải dọc xung quanh hồ, ẩn hiện theo những đám mây chao lượn trên bầu trời, cảnh quan ngoạn mục nơi cao nguyên kỳ vĩ làm xao xuyến lòng người, mê đắm và cuốn hút không ít lữ khách khi ngang qua đây.
Theo Hoàng Thương (Ngôi Sao)
My life!
Di tích lịch sử trường Dục Thanh – Phan Thiết
Trường Dục Thanh - Phan Thiết được xây dựng vào năm 1907 (cùng năm xây dựng với trường Đông Kinh Nghĩa Thục) tọa lạc trên địa bàn làng Thành Đức nay là số nhà 39 đường Trưng Nhị, phường Đức Nghĩa, TP.Phan Thiết. Trường dựng lên để hưởng ứng phong trào Duy Tân do cụ Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng khởi xướng.
Trường do các cụ Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quý Anh (hai người con của nhà văn - thơ yêu nước Nguyễn Thông) thành lập. Mục tiêu của phong trào Duy Tân và của trường là mở mang dân trí, thức dậy ý thức giống nòi, dân tộc. Đây là trường tư thục có nội dung giảng dạy tiến bộ nhất ở Bình Thuận lúc bấy giờ.
< Sáu sáng lập viên của trường Dục Thanh: Hồ Tá Bang, Nguyễn Trọng Lội (hay Lợi), Nguyễn Quý Anh (hàng trên), Nguyễn Hiệt Chi, Trần Lệ Chất, Ngô Văn Nhượng (hàng dưới).
Năm 1910, trên đường đi tìm phương cứu nước, thầy giáo Nguyễn Tất Thành (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) được cụ nghè Trương Gia Mô giới thiệu đã đến Phan Thiết và dừng chân dạy học ở trường Dục Thanh. Học sinh của trường có khoảng 60 người cùng 7 thầy giáo giảng dạy các bộ môn: Hán văn, Pháp văn, thể dục thể thao... Thầy Thành dạy lớp nhì, chủ yếu là dạy quốc ngữ, Hán văn.
Trong thời gian dạy học ở trường Dục Thanh, ngoài những nội dung được phân công giảng dạy, thầy Thành còn bằng tình cảm người thầy, người anh đã truyền bá lòng yêu quê hương đất nước, nòi giống tổ tiên cho học sinh. Những giờ học ngoại khóa, những lúc rảnh thầy dẫn học sinh du ngoạn cảnh đẹp ở thị xã Phan Thiết lúc bấy giờ như bãi biển Thương Chánh, động làng Thiềng, đình làng Đức Nghĩa...
Dulichgo
Năm 1911, thầy Thành rời trường Dục Thanh - Phan Thiết vào Sài Gòn vượt đại dương đi tìm con đường giải phóng dân tộc.
Một vài năm sau ông Nguyễn Trọng Lội qua đời, ông Nguyễn Quý Anh chuyển vào Sài Gòn, không còn người phụ trách và nhiều lý do khách quan nên trường đóng cửa vào năm 1912. Ngôi trường xưa Bác dạy vốn đã bị hư hỏng nhiều, nhưng trong số học sinh thầy Thành dạy năm xưa vẫn còn 4 cụ còn sống, đó là bác sĩ Nguyễn Quý Thầu, bác sĩ Nguyễn Kim Chi, cụ Từ Trường Phùng, cụ Nguyễn Đăng Lâu.
Sau ngày quê hương được giải phóng, nguyện vọng của nhân dân là muốn phục chế lại ngôi trường Dục Thanh xưa để tỏ lòng biết ơn Bác Hồ kính yêu và giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ hôm nay và mai sau. Nhờ những ký ức, kỷ niệm của các cụ, vị trí ngôi trường và những thành phần kiến trúc nội, ngoại thất được hình thành qua các bản vẽ và được dựng lại từ những năm 1978-1980.
Khu di tích trường Dục Thanh gồm có các công trình chính: một gian nhà lớn phía trước với những bộ bàn ghế gỗ ngăn nắp vốn là nơi diễn ra hoạt động dạy học của thầy trò trường Dục Thanh. Bên phải gian nhà chính là Nhà Ngư được xây dựng năm 1906 và từ năm 1908 trở đi dùng làm nơi nội trú của học sinh. Ở dãy phía sau, Ngọa du sào là ngôi nhà được xây dựng vào năm 1880 của cụ Nguyễn Thông.
Dulichgo
Vào những năm cuối đời, cụ Nguyễn Thông ở căn nhà này ngâm thơ, bình văn và luận bàn công việc với các sĩ phu yêu nước. Lúc ở trường Dục Thanh thầy Thành đọc sách, soạn bài ở Ngọa du sào. Ngôi nhà này cũng được tu bổ lại, hiện vật bên trong bị xáo trộn và mất mát khá nhiều. Không thể không nhắc tới cây khế, giếng nước gắn bó với cuộc đời làm thầy của Bác Hồ ở Dục Thanh nên đó cũng là điểm chính trong khu di tích.
Theo Báo CATPHCM, ảnh internet
My life!
Trường do các cụ Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quý Anh (hai người con của nhà văn - thơ yêu nước Nguyễn Thông) thành lập. Mục tiêu của phong trào Duy Tân và của trường là mở mang dân trí, thức dậy ý thức giống nòi, dân tộc. Đây là trường tư thục có nội dung giảng dạy tiến bộ nhất ở Bình Thuận lúc bấy giờ.
< Sáu sáng lập viên của trường Dục Thanh: Hồ Tá Bang, Nguyễn Trọng Lội (hay Lợi), Nguyễn Quý Anh (hàng trên), Nguyễn Hiệt Chi, Trần Lệ Chất, Ngô Văn Nhượng (hàng dưới).
Năm 1910, trên đường đi tìm phương cứu nước, thầy giáo Nguyễn Tất Thành (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) được cụ nghè Trương Gia Mô giới thiệu đã đến Phan Thiết và dừng chân dạy học ở trường Dục Thanh. Học sinh của trường có khoảng 60 người cùng 7 thầy giáo giảng dạy các bộ môn: Hán văn, Pháp văn, thể dục thể thao... Thầy Thành dạy lớp nhì, chủ yếu là dạy quốc ngữ, Hán văn.
Trong thời gian dạy học ở trường Dục Thanh, ngoài những nội dung được phân công giảng dạy, thầy Thành còn bằng tình cảm người thầy, người anh đã truyền bá lòng yêu quê hương đất nước, nòi giống tổ tiên cho học sinh. Những giờ học ngoại khóa, những lúc rảnh thầy dẫn học sinh du ngoạn cảnh đẹp ở thị xã Phan Thiết lúc bấy giờ như bãi biển Thương Chánh, động làng Thiềng, đình làng Đức Nghĩa...
Dulichgo
Năm 1911, thầy Thành rời trường Dục Thanh - Phan Thiết vào Sài Gòn vượt đại dương đi tìm con đường giải phóng dân tộc.
Một vài năm sau ông Nguyễn Trọng Lội qua đời, ông Nguyễn Quý Anh chuyển vào Sài Gòn, không còn người phụ trách và nhiều lý do khách quan nên trường đóng cửa vào năm 1912. Ngôi trường xưa Bác dạy vốn đã bị hư hỏng nhiều, nhưng trong số học sinh thầy Thành dạy năm xưa vẫn còn 4 cụ còn sống, đó là bác sĩ Nguyễn Quý Thầu, bác sĩ Nguyễn Kim Chi, cụ Từ Trường Phùng, cụ Nguyễn Đăng Lâu.
Sau ngày quê hương được giải phóng, nguyện vọng của nhân dân là muốn phục chế lại ngôi trường Dục Thanh xưa để tỏ lòng biết ơn Bác Hồ kính yêu và giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ hôm nay và mai sau. Nhờ những ký ức, kỷ niệm của các cụ, vị trí ngôi trường và những thành phần kiến trúc nội, ngoại thất được hình thành qua các bản vẽ và được dựng lại từ những năm 1978-1980.
Khu di tích trường Dục Thanh gồm có các công trình chính: một gian nhà lớn phía trước với những bộ bàn ghế gỗ ngăn nắp vốn là nơi diễn ra hoạt động dạy học của thầy trò trường Dục Thanh. Bên phải gian nhà chính là Nhà Ngư được xây dựng năm 1906 và từ năm 1908 trở đi dùng làm nơi nội trú của học sinh. Ở dãy phía sau, Ngọa du sào là ngôi nhà được xây dựng vào năm 1880 của cụ Nguyễn Thông.
Dulichgo
Vào những năm cuối đời, cụ Nguyễn Thông ở căn nhà này ngâm thơ, bình văn và luận bàn công việc với các sĩ phu yêu nước. Lúc ở trường Dục Thanh thầy Thành đọc sách, soạn bài ở Ngọa du sào. Ngôi nhà này cũng được tu bổ lại, hiện vật bên trong bị xáo trộn và mất mát khá nhiều. Không thể không nhắc tới cây khế, giếng nước gắn bó với cuộc đời làm thầy của Bác Hồ ở Dục Thanh nên đó cũng là điểm chính trong khu di tích.
Theo Báo CATPHCM, ảnh internet
My life!
Lên Đăk Rơwa sống cùng người Bana
Du lịch văn hóa và khám phá đang là trào lưu của giới trẻ. Loại hình du lịch này vừa mang đến những trải nghiệm mới mẻ, bổ sung thêm kiến thức về văn hóa dân tộc, vừa rèn luyện kỹ năng "mềm" làm vốn sống. Làng Bana ở Đăk Rơwa (TP Kon Tum) là một trong những nơi để du khách có thể thực hành một tour như thế. Những ngôi nhà sàn nằm trên triền đồi nhìn xuống dòng Đăk Bla huyền thoại thơ mộng luôn rộng cửa đón khách phương xa…
Làng Bana cách trung tâm thành phố Kon Tum khoảng 10 cây số. Theo đường Bắc Kạn đến hết đường là cây cầu Kon Klo bắc qua dòng Đăk Bla. Đây là cây cầu treo lớn nhất Tây Nguyên. Xe công nông, xe máy cày và xe tải nhỏ có thể lưu thông qua cầu, không cần phải chạy hơn 20 cây số đường vòng.
Đường vào làng được trải nhựa nhưng đã xuống cấp, chỉ một phần đường gần làng là nguyên vẹn. Xe di chuyển tốc độ khoảng 30-40 cây số mỗi giờ. Bù lại, cảnh vật hai bên đường rất thu hút.
Cách làng vài cây số, chúng tôi đi dọc theo dòng sông Đăk Bla lượt là thơ mộng. Dòng sông mang màu đỏ ngầu của đất bazan, của phù sa, trôi nhẹ nhàng như nàng sơn nữ e ấp. Mùa nước đổ về mạnh, khi có mưa to ở thượng nguồn, dòng nước cuồn cuộn như muốn nuốt chửng mọi thứ trên đường chúng đi qua.
Bao đời nay, người làng Bana vẫn gắn bó với ngôi làng bên bờ sông dịu dàng mà hung hãn đó. Theo truyền thuyết, chỉ có một lần, họ bỏ làng ra đi. Đó là cách đây khoảng hơn một thế kỷ, người làng thấy một con thuồng luồng vùng vẫy trên khúc sông gần làng. Biết là điềm chẳng lành, một số người lén lút rời làng. Người ở lại một thời gian sau bị bệnh dịch, chết liên tục. Hoảng sợ, những người còn sống bỏ làng đi hết. Họ buộc phải rời con sông, rời nơi tổ tiên đã gắn bó, dạt sang các trái núi khác để kiếm sống.
Dulichgo
Nhưng nỗi nhớ làng, nhớ sông đã kéo họ trở về. Khi đó, bệnh dịch qua đi. Sau bao năm bị bỏ hoang, làng trở nên hoang phế. Người ta dọn dẹp, bỏ đi những xác nhà cũ, lên rừng chặt cây về cất lại nhà rông, nhà sàn… Giờ, ngôi nhà rông vẫn sừng sững giữa làng. Xung quanh đó, nhiều làng khác cũng dần hình thành nên. Đặc biệt, những ngôi nhà sàn vách đất trăm năm nay vẫn vững chãi, tồn tại như tài sản quý báu của làng.
Nằm gần thành phố và có không gian thơ mộng nên làng Bana ở Đăk Rơwa sớm phát triển du lịch. Bên đây cầu Kon Klo, nhiều điểm lưu trú dạng bungalow mọc lên để đón khách.
Những ngôi nhà sàn trong làng cũng mở cửa đón khách đến ở và sinh hoạt như một thành viên của làng, của gia đình. Với các nghề truyền thống như dệt thổ cẩm của phụ nữ, làm gốm, đồ đồng, đồ bạc của đàn ông cùng với nhà rông và những ngôi nhà sàn vách đất…, làng Bana ở Đăk Rơwa trở thành điểm đến hấp dẫn đậm chất văn hóa đặc trưng của Tây Nguyên.
Từ trung tâm làng, xuôi theo dòng Bana khoảng 2 cây số là bến thuyền độc mộc. Ở đó, không gian mang đậm chất làng quê. Dọc bờ sông là những lũy tre để cột thuyền độc mộc. Mỗi chiều về, nhà nhà đều neo thuyền lại đây rồi trở về nhà. Vì thế, để ngắm thuyền độc mộc, du khách phải đến bến thuyền vào buổi chiều hoặc vào trước 9 giờ sáng cuối tuần. Còn ngược dòng Đăk Bla vào hướng núi là những con thác.
Dulichgo
Ở đó, có những ghềnh đá chắn ngang dòng sông tạo thành ghềnh thác mà người làng gọi là thác H’Lay, thác Mốp. Tận mắt chứng kiến những chiếc bè cao su, những chiếc thuyền độc mộc vượt qua những ghềnh thác này, du khách mới hình dung được sự dũng cảm và cách sống chan hòa với thiên nhiên, núi cao, thác dữ của người dân bản địa. Và bên ché rượu cần, bếp lửa đêm giữa làng, những câu chuyện về con đước, một dạng người rừng cao to và khỏe mạnh, càng tạo thêm sự huyền bí, hấp dẫn về đời sống văn hóa bản địa của người Bana.
Những ngôi nhà homestay ở làng Bana (Đăk Rơwa) luôn được cất rộng lớn, sức chứa lên đến 50-70 người. Chủ các homestay là những người yêu quý văn hóa bản địa và nấu ăn rất ngon. Họ sưu tầm lại các món truyền thống, trong đó có nhiều món ăn gắn với núi rừng, để phục vụ du khách. Đặc biệt là sự thân thiện, nhiệt tình của họ tạo nên sự thiện cảm của du khách với làng.
Đến Đăk Rơwa, du khách không cần thuê hướng dẫn viên bởi trẻ em trong làng, người nhà của chủ homestay là những hướng dẫn viên miễn phí. Họ rành đường đi nước bước để hướng dẫn khách thỏa sức khám phá, trải nghiệm những ngóc ngách của làng, của núi và của con sông Đăk Bla huyền thoại.
Theo Thụy Du (Báo Cần Thơ)
My life!
Làng Ba Na bên dòng sông chảy ngược
Làng Bana cách trung tâm thành phố Kon Tum khoảng 10 cây số. Theo đường Bắc Kạn đến hết đường là cây cầu Kon Klo bắc qua dòng Đăk Bla. Đây là cây cầu treo lớn nhất Tây Nguyên. Xe công nông, xe máy cày và xe tải nhỏ có thể lưu thông qua cầu, không cần phải chạy hơn 20 cây số đường vòng.
Đường vào làng được trải nhựa nhưng đã xuống cấp, chỉ một phần đường gần làng là nguyên vẹn. Xe di chuyển tốc độ khoảng 30-40 cây số mỗi giờ. Bù lại, cảnh vật hai bên đường rất thu hút.
Cách làng vài cây số, chúng tôi đi dọc theo dòng sông Đăk Bla lượt là thơ mộng. Dòng sông mang màu đỏ ngầu của đất bazan, của phù sa, trôi nhẹ nhàng như nàng sơn nữ e ấp. Mùa nước đổ về mạnh, khi có mưa to ở thượng nguồn, dòng nước cuồn cuộn như muốn nuốt chửng mọi thứ trên đường chúng đi qua.
Bao đời nay, người làng Bana vẫn gắn bó với ngôi làng bên bờ sông dịu dàng mà hung hãn đó. Theo truyền thuyết, chỉ có một lần, họ bỏ làng ra đi. Đó là cách đây khoảng hơn một thế kỷ, người làng thấy một con thuồng luồng vùng vẫy trên khúc sông gần làng. Biết là điềm chẳng lành, một số người lén lút rời làng. Người ở lại một thời gian sau bị bệnh dịch, chết liên tục. Hoảng sợ, những người còn sống bỏ làng đi hết. Họ buộc phải rời con sông, rời nơi tổ tiên đã gắn bó, dạt sang các trái núi khác để kiếm sống.
Dulichgo
Nhưng nỗi nhớ làng, nhớ sông đã kéo họ trở về. Khi đó, bệnh dịch qua đi. Sau bao năm bị bỏ hoang, làng trở nên hoang phế. Người ta dọn dẹp, bỏ đi những xác nhà cũ, lên rừng chặt cây về cất lại nhà rông, nhà sàn… Giờ, ngôi nhà rông vẫn sừng sững giữa làng. Xung quanh đó, nhiều làng khác cũng dần hình thành nên. Đặc biệt, những ngôi nhà sàn vách đất trăm năm nay vẫn vững chãi, tồn tại như tài sản quý báu của làng.
Nằm gần thành phố và có không gian thơ mộng nên làng Bana ở Đăk Rơwa sớm phát triển du lịch. Bên đây cầu Kon Klo, nhiều điểm lưu trú dạng bungalow mọc lên để đón khách.
Những ngôi nhà sàn trong làng cũng mở cửa đón khách đến ở và sinh hoạt như một thành viên của làng, của gia đình. Với các nghề truyền thống như dệt thổ cẩm của phụ nữ, làm gốm, đồ đồng, đồ bạc của đàn ông cùng với nhà rông và những ngôi nhà sàn vách đất…, làng Bana ở Đăk Rơwa trở thành điểm đến hấp dẫn đậm chất văn hóa đặc trưng của Tây Nguyên.
Từ trung tâm làng, xuôi theo dòng Bana khoảng 2 cây số là bến thuyền độc mộc. Ở đó, không gian mang đậm chất làng quê. Dọc bờ sông là những lũy tre để cột thuyền độc mộc. Mỗi chiều về, nhà nhà đều neo thuyền lại đây rồi trở về nhà. Vì thế, để ngắm thuyền độc mộc, du khách phải đến bến thuyền vào buổi chiều hoặc vào trước 9 giờ sáng cuối tuần. Còn ngược dòng Đăk Bla vào hướng núi là những con thác.
Dulichgo
Ở đó, có những ghềnh đá chắn ngang dòng sông tạo thành ghềnh thác mà người làng gọi là thác H’Lay, thác Mốp. Tận mắt chứng kiến những chiếc bè cao su, những chiếc thuyền độc mộc vượt qua những ghềnh thác này, du khách mới hình dung được sự dũng cảm và cách sống chan hòa với thiên nhiên, núi cao, thác dữ của người dân bản địa. Và bên ché rượu cần, bếp lửa đêm giữa làng, những câu chuyện về con đước, một dạng người rừng cao to và khỏe mạnh, càng tạo thêm sự huyền bí, hấp dẫn về đời sống văn hóa bản địa của người Bana.
Những ngôi nhà homestay ở làng Bana (Đăk Rơwa) luôn được cất rộng lớn, sức chứa lên đến 50-70 người. Chủ các homestay là những người yêu quý văn hóa bản địa và nấu ăn rất ngon. Họ sưu tầm lại các món truyền thống, trong đó có nhiều món ăn gắn với núi rừng, để phục vụ du khách. Đặc biệt là sự thân thiện, nhiệt tình của họ tạo nên sự thiện cảm của du khách với làng.
Đến Đăk Rơwa, du khách không cần thuê hướng dẫn viên bởi trẻ em trong làng, người nhà của chủ homestay là những hướng dẫn viên miễn phí. Họ rành đường đi nước bước để hướng dẫn khách thỏa sức khám phá, trải nghiệm những ngóc ngách của làng, của núi và của con sông Đăk Bla huyền thoại.
Theo Thụy Du (Báo Cần Thơ)
My life!
Làng Ba Na bên dòng sông chảy ngược
Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2015
Thử thách với trò nhảy thác Hang Cọp
Không hùng vĩ như Dantala, thác Hang Cọp thu hút du khách thích mạo hiểm bởi sự hoang sơ, địa hình trekking lý tưởng và những trải nghiệm khó quên giữa dòng nước.
Nếu đã quen với một Đà Lạt nhẹ nhàng và lãng mạn, một ngày trải nghiệm thả thác (canyoning) ở thác Hang Cọp sẽ khiến bạn có cái nhìn khác về thành phố này.
Để bắt đầu tour, bạn sẽ được ban tổ chức trang bị đầy đủ thiết bị an toàn, mỗi khác bao gồm nón bảo hộ, đôi găng tay, áo phao và một bộ dây bảo hộ. Đồ dùng cá nhân, thiết bị điện tử của bạn sẽ được cho vào túi chống nước. Bạn không cần cầm theo máy ảnh vì hướng dẫn viên sẽ giúp bạn ghi lại những khoảnh khắc thú vị trong khi chơi.
Bắt đầu chuyến đi, bạn đi bộ dọc theo đường mòn vào sâu trong rừng thông. Đường đi không quá khó, có những đoạn dốc nhưng cũng thoai thoải, không hiểm trở. Sải bước giữa rừng thông xanh, cảm nhận cái se se của Đà Lạt vào thu chắc chắn sẽ khiến những bạn trẻ thành phố, dân văn phòng cảm thấy thú vị khi đã ngán nhịp sống đô thị chen chúc, nhiều nhà, lắm xe.
Đi khoảng 15 phút, cả đoàn đừng lại ở dốc và bắt đầu tập những kĩ thuật cơ bản để thực hiện thả thác. Các động tác an toàn, di chuyển xuống, nhảy vách được hướng dẫn viên mô phạm và luyện kỹ cho người chơi. Sau bước tập luyện, các bạn sẽ cảm thấy tự tin hơn và sẵn sang bước vào trò chơi.
Dulichgo
Cả tour thả thác ở Hang Cọp chia làm 4 chặng với độ khó tăng dần. Chặng đầu tiên là vách đá khô, dốc thẳng đứng và cao khoảng 20 m. Có thể ban đầu nhìn xuống bạn cảm thấy sợ, nhưng thực tế làm khá đơn giản. Người chơi đeo 2 dây, một dây để tựa vào và đu người dần xuống vách, một dây còn là để bảo hiểm, do hướng dẫn viên điều khiển.
Khi đu xuống đến cách mặt nước 4 m, bạn sẽ nhảy tự do vào dòng suối phía dưới. Chỉ cần buông tay, để cơ thể rơi và nghe cái lạnh của dòng thác ập người, bạn sẽ phấn khích, không còn sợ hãi.
Thực hiện xong thác đầu tiên sẽ có một trò chơi nhỏ, đó là là nhảy thác. Người chơi tùy chọn độ cao: 5 m, 7 m hoặc hơn 10 m (các bạn nữ nên dừng lại ở 7 m, mức độ cao hơn thích hợp cho nam giới). Bạn chỉ cần đứng ở điểm được hướng dẫn và nhảy xuống nước.
Dulichgo
Cách chơi đơn giản, nhảy xuống cũng không có gì khó, nhưng lúc đứng ở trên vách thác nhìn xuống, bạn thật sự bị thử thách thần kinh. Song, nếu bạn vượt qua được nỗi sơ hãi đó, tập trung và nhảy thật dứt khoát, bạn sẽ có một trải nghiệm khó quên.
Hoàn thành hai trò đầu tiên, cảm giác của người chơi là lạnh run vì người ướt sũng, trong khi thời tiết lại lạnh. Dù vậy, trò chơi vẫn tiếp tục. Cả đoàn tiếp tục di chuyển len lỏi ngược dòng thác để tới thác nước thứ hai và cũng là thác nước đầu tiên của chuyến đi, cao khoảng 10 m.
Dulichgo
Do đã luyện tập qua vách đá đầu tiên, bạn sẽ tự tin để tiến tới với dòng thác này. Người chơi giữ đúng tư thế vuông góc với thác, trụ chân thật chắc và từ từ trượt xuống. Ban đầu có thể hơi mỏi, vì chân phải vững để tránh bị ngã trước dòng nước chảy ào ào nhưng sau đó mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn.
Hãy thử trải nghiệm cảm giác trượt thác giống như công viên nước, nhưng lần này không phải là ống trượt nhân tạo mà là dòng nước thiên nhiên.
Dulichgo
Chặng ba và bốn của tour diễn ra ở cùng một thác nước cao khoảng 40 m, thác lớn nhất của Hang Cọp. Bạn bắt đầu chặng ba bằng việc đi xuống một vách đá khô khoảng 35 m. Vách này dốc đứng, hơi vát vào trong, nên khi thả cần phải tự tin, nhảy từng bước dài để xuống nhanh và tránh bị mất bình tĩnh khi treo lở lừng trên không.
Thác nước cuối cùng là thác cao, dốc và có sức nước rất mạnh. Đứng nghe tiếng thác đổ rào rào cũng đã làm cho người chơi cảm thấy phấn khích (hoặc sợ). Tuy vậy, cũng như ở thác nước đầu tiên, tất cả những gì bạn cần làm là bình tĩnh, làm đúng kỹ thuật và tận hưởng cảm giác “đối mặt thiên nhiên”.
Khi đã vào cuộc chơi, dù có người hướng dẫn và dây bảo hiểm, bạn phải tự mình xác định chỗ đặt chân ở đâu phù hợp, giữ tư thế tốt để tránh bị nước đập vào mặt. Nếu bị mệt giữa chừng, bạn có thể tìm một khe thác để nấp vào, đứng thẳng lên lấy sức và tiếp tục bước.
Dulichgo
Một số gợi ý cho bạn khi chơi thả thác:
- Nên biết bơi: tất nhiên không bơi được vẫn có thể chơi tốt, nhưng biết bơi sẽ có ích cho bạn khi gặp những tình huống bất ngờ trong chuyến đi và cũng giúp bạn tự tin chơi hơn.
- Nếu bạn chịu lạnh không tốt, hãy đi chơi vào mùa hè. Vì chơi thả thác, nên việc tiếp xúc, ngâm mình trong nước và đi bộ trong bộ đồ ướt sũng là chuyện tất nhiên. Hãy chuẩn bị tâm lý cho điều này.
- Hãy luôn bình tình trong mọi tình huống, có thể khi thả thác nước, bạn sẽ bị dòng nước đánh vào, làm trượt chân, té sấp... Lúc đó cần bình tĩnh, thở bằng miệng và trượt xuôi theo dòng nước. Đồng thời, cố gắng đứng thẳng vuông góc với mặt đá, tư thế này là chắc chắn nhất để không đi nước đánh vào mặt và dễ dàng di chuyển.
Theo Nam Sơn (New Zing)
My life!
Nếu đã quen với một Đà Lạt nhẹ nhàng và lãng mạn, một ngày trải nghiệm thả thác (canyoning) ở thác Hang Cọp sẽ khiến bạn có cái nhìn khác về thành phố này.
Để bắt đầu tour, bạn sẽ được ban tổ chức trang bị đầy đủ thiết bị an toàn, mỗi khác bao gồm nón bảo hộ, đôi găng tay, áo phao và một bộ dây bảo hộ. Đồ dùng cá nhân, thiết bị điện tử của bạn sẽ được cho vào túi chống nước. Bạn không cần cầm theo máy ảnh vì hướng dẫn viên sẽ giúp bạn ghi lại những khoảnh khắc thú vị trong khi chơi.
Bắt đầu chuyến đi, bạn đi bộ dọc theo đường mòn vào sâu trong rừng thông. Đường đi không quá khó, có những đoạn dốc nhưng cũng thoai thoải, không hiểm trở. Sải bước giữa rừng thông xanh, cảm nhận cái se se của Đà Lạt vào thu chắc chắn sẽ khiến những bạn trẻ thành phố, dân văn phòng cảm thấy thú vị khi đã ngán nhịp sống đô thị chen chúc, nhiều nhà, lắm xe.
Đi khoảng 15 phút, cả đoàn đừng lại ở dốc và bắt đầu tập những kĩ thuật cơ bản để thực hiện thả thác. Các động tác an toàn, di chuyển xuống, nhảy vách được hướng dẫn viên mô phạm và luyện kỹ cho người chơi. Sau bước tập luyện, các bạn sẽ cảm thấy tự tin hơn và sẵn sang bước vào trò chơi.
Dulichgo
Cả tour thả thác ở Hang Cọp chia làm 4 chặng với độ khó tăng dần. Chặng đầu tiên là vách đá khô, dốc thẳng đứng và cao khoảng 20 m. Có thể ban đầu nhìn xuống bạn cảm thấy sợ, nhưng thực tế làm khá đơn giản. Người chơi đeo 2 dây, một dây để tựa vào và đu người dần xuống vách, một dây còn là để bảo hiểm, do hướng dẫn viên điều khiển.
Khi đu xuống đến cách mặt nước 4 m, bạn sẽ nhảy tự do vào dòng suối phía dưới. Chỉ cần buông tay, để cơ thể rơi và nghe cái lạnh của dòng thác ập người, bạn sẽ phấn khích, không còn sợ hãi.
Thực hiện xong thác đầu tiên sẽ có một trò chơi nhỏ, đó là là nhảy thác. Người chơi tùy chọn độ cao: 5 m, 7 m hoặc hơn 10 m (các bạn nữ nên dừng lại ở 7 m, mức độ cao hơn thích hợp cho nam giới). Bạn chỉ cần đứng ở điểm được hướng dẫn và nhảy xuống nước.
Dulichgo
Cách chơi đơn giản, nhảy xuống cũng không có gì khó, nhưng lúc đứng ở trên vách thác nhìn xuống, bạn thật sự bị thử thách thần kinh. Song, nếu bạn vượt qua được nỗi sơ hãi đó, tập trung và nhảy thật dứt khoát, bạn sẽ có một trải nghiệm khó quên.
Hoàn thành hai trò đầu tiên, cảm giác của người chơi là lạnh run vì người ướt sũng, trong khi thời tiết lại lạnh. Dù vậy, trò chơi vẫn tiếp tục. Cả đoàn tiếp tục di chuyển len lỏi ngược dòng thác để tới thác nước thứ hai và cũng là thác nước đầu tiên của chuyến đi, cao khoảng 10 m.
Dulichgo
Do đã luyện tập qua vách đá đầu tiên, bạn sẽ tự tin để tiến tới với dòng thác này. Người chơi giữ đúng tư thế vuông góc với thác, trụ chân thật chắc và từ từ trượt xuống. Ban đầu có thể hơi mỏi, vì chân phải vững để tránh bị ngã trước dòng nước chảy ào ào nhưng sau đó mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn.
Hãy thử trải nghiệm cảm giác trượt thác giống như công viên nước, nhưng lần này không phải là ống trượt nhân tạo mà là dòng nước thiên nhiên.
Dulichgo
Chặng ba và bốn của tour diễn ra ở cùng một thác nước cao khoảng 40 m, thác lớn nhất của Hang Cọp. Bạn bắt đầu chặng ba bằng việc đi xuống một vách đá khô khoảng 35 m. Vách này dốc đứng, hơi vát vào trong, nên khi thả cần phải tự tin, nhảy từng bước dài để xuống nhanh và tránh bị mất bình tĩnh khi treo lở lừng trên không.
Thác nước cuối cùng là thác cao, dốc và có sức nước rất mạnh. Đứng nghe tiếng thác đổ rào rào cũng đã làm cho người chơi cảm thấy phấn khích (hoặc sợ). Tuy vậy, cũng như ở thác nước đầu tiên, tất cả những gì bạn cần làm là bình tĩnh, làm đúng kỹ thuật và tận hưởng cảm giác “đối mặt thiên nhiên”.
Khi đã vào cuộc chơi, dù có người hướng dẫn và dây bảo hiểm, bạn phải tự mình xác định chỗ đặt chân ở đâu phù hợp, giữ tư thế tốt để tránh bị nước đập vào mặt. Nếu bị mệt giữa chừng, bạn có thể tìm một khe thác để nấp vào, đứng thẳng lên lấy sức và tiếp tục bước.
Dulichgo
Một số gợi ý cho bạn khi chơi thả thác:
- Nên biết bơi: tất nhiên không bơi được vẫn có thể chơi tốt, nhưng biết bơi sẽ có ích cho bạn khi gặp những tình huống bất ngờ trong chuyến đi và cũng giúp bạn tự tin chơi hơn.
- Nếu bạn chịu lạnh không tốt, hãy đi chơi vào mùa hè. Vì chơi thả thác, nên việc tiếp xúc, ngâm mình trong nước và đi bộ trong bộ đồ ướt sũng là chuyện tất nhiên. Hãy chuẩn bị tâm lý cho điều này.
- Hãy luôn bình tình trong mọi tình huống, có thể khi thả thác nước, bạn sẽ bị dòng nước đánh vào, làm trượt chân, té sấp... Lúc đó cần bình tĩnh, thở bằng miệng và trượt xuôi theo dòng nước. Đồng thời, cố gắng đứng thẳng vuông góc với mặt đá, tư thế này là chắc chắn nhất để không đi nước đánh vào mặt và dễ dàng di chuyển.
Theo Nam Sơn (New Zing)
My life!
Thôn Hạ Thành (Hà Giang): chốn bình yên
Nếu có cơ hội một lần ghé thăm vùng cao nguyên đá Hà Giang, bạn đừng quên khám phá những thửa ruộng được cấy bên những phiến đá cổ, hay những ao bèo với những gam màu đẹp đến lạ thường ở thôn Hạ Thành. Bởi vì đến đó, bạn sẽ thực sự bước vào một thế giới cổ tích với vẻ đẹp thu hút và bình dị, mộc mạc, xưa cũ.
Thôn Hạ Thành thuộc xã Phương Độ, Thành phố Hà Giang, cách trung tâm thành phố 6 km về hướng Cửa khẩu Quốc gia Thanh Thủy. Thôn có 117 hộ với gần 600 nhân khẩu và 100% người dân là dân tộc Tày. Không như nhiều bản làng gần phố xá, cảnh quan nơi đây khá bình yên, mộc mạc và nên thơ, khiến ai nhìn thấy cũng muốn một lần nghỉ lại.
Hạ Thành nằm trên một địa thế đẹp, xung quanh làng là những đồi cọ xanh biêng biếc, xen giữa làng là những thủa ruộng bậc thang được tô điểm bởi những những tảng đá cuội mấp mô.
Hạ Thành tươi mát và trù phú bởi có dòng suối chảy từ đỉnh núi thôn Khuổi Mi xuống thung lũng, vào mùa nước, tạo thành một thác nước tuyệt đẹp mà bà con trong vùng gọi bằng một cái tên rất giản dị, gần gũi: “Thác số 6″.
Hạ Thành còn hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp hoang sơ, bình yên của khu sinh thái Suối Tiên. Nơi đây có địa hình tương đối bằng phẳng, lòng suối rộng, hai bên suối là những khu đồi thấp, nổi lên những tảng đá nguyên thủy mồ côi khổng lồ, đan xen trong những rừng cọ già cùng hệ động thực vật phong phú.
Dulichgo
Ngoài những cánh đồng bậc thang màu mỡ, tiếng cối giã gạo bằng sức nước, tiếng cá Bỗng đớp mồi dưới ao, tiếng mõ trâu, tiếng gà gáy, những món ăn đặc sản hương vị quê hương như: Cá Bỗng nướng, thịt lợn đen hun khói, gà đồi, dê núi, vịt bầu.
Cá Bỗng được người dân nơi đây quý trọng và nâng niu như của cải có giá trị, họ dâng lên trời đất, tổ tiên để tỏ lòng kính trọng. Tục lệ dùng cá Bỗng để cúng trong những ngày lễ của người Tày đã có từ rất lâu đời.
Vào ngày 5/5 và ngày 12/11 âm lịch hàng năm, người ta thường dùng cá Bỗng để cúng tạ trời đất và tổ tiên vì một vụ mùa bội thu, cuộc sống sung túc. Ngày 5/5 âm lịch, tất cả các nhà bà con dân tộc thường nấu xôi nếp và cá Bỗng nướng để cúng. Còn ngày 12/11 âm lịch, đồng bào thường có phong tục làm bánh cá, cũng là để cúng lễ thần linh, tổ tiên, ông bà, cha mẹ.
Nơi đây còn lưu giữ các phong tục tập quán và những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Tày như: Nhạc cụ, trang phục, các điệu hát cọi, hát then… Con người hồn hậu, chất phác, phong cảnh thiên nhiên hữu tình, khí hậu trong lành mát mẻ…
Dulichgo
Đồng bào dân tộc Tày thôn Hạ Thành sống trong những nếp nhà sàn mái cọ. Bên nhà thường có một ao nhỏ, nước chảy róc rách. Khi du lịch cộng đồng hình thành và phát triển ở Hà Giang, Hạ Thành cũng hòa mình vào luồng không khí mới. Từ đầu thôn đến cuối xóm, mọi người cùng dọn dẹp, trang trí cửa nhà sạch sẽ, gọn gàng từ trong nhà ra đến tận cổng.
Trong thôn có 4 – 5 hộ gia đình làm dịch vụ lưu trú cho khách du lịch đến thăm quan, tìm hiểu về phong tục, văn hóa dân tộc của thôn. Ngoài chăm chỉ, cần mẫn việc đồng áng, người dân Hạ Thành còn rất yêu văn nghệ. Cả ngày vất vả với ruộng, với nương, tối về người dân Hạ Thành lại cùng nhau say sưa trong điệu hát then, hát cọi, trong tiếng đàn tính, đàn bầu.
Dulichgo
Xung quanh làng là những đồi cọ xanh biếc, trên những thủa ruộng bậc thang mấp mô những tảng đá cuội nguyên thủy; có dòng suối chảy từ đỉnh núi thôn Khuổi Mi xuống thung lũng với nhiều tảng đá to, phía tây của thôn là khu rừng nguyên sinh.
Những ngôi nhà sàn truyền thống nguyên sơ, những câu hát lượn, hát cọi, hát then ngọt ngào, những điệu múa dân gian, múa tín ngưỡng, những lễ hội truyền thống huyền bí, tạo cho bạn một cảm giác như trở về nơi cội nguồn của dân tộc.
Hạ Thành trở thành một điểm dừng chân lý tưởng cho du khách khi đến với Hà Giang. Đến Hạ Thành, Quý khách được trải nghiệm, được sinh hoạt cùng người dân Hạ Thành, được đắm mình trong câu cọi, điệu then, được thưởng thức những đặc sản của nông thôn miền núi.
My life! tổng hợp từ Dân Trí, Travel VZN, Vietnamtourism... và nhiều nguồn khác.
Thôn Hạ Thành thuộc xã Phương Độ, Thành phố Hà Giang, cách trung tâm thành phố 6 km về hướng Cửa khẩu Quốc gia Thanh Thủy. Thôn có 117 hộ với gần 600 nhân khẩu và 100% người dân là dân tộc Tày. Không như nhiều bản làng gần phố xá, cảnh quan nơi đây khá bình yên, mộc mạc và nên thơ, khiến ai nhìn thấy cũng muốn một lần nghỉ lại.
Hạ Thành nằm trên một địa thế đẹp, xung quanh làng là những đồi cọ xanh biêng biếc, xen giữa làng là những thủa ruộng bậc thang được tô điểm bởi những những tảng đá cuội mấp mô.
Hạ Thành tươi mát và trù phú bởi có dòng suối chảy từ đỉnh núi thôn Khuổi Mi xuống thung lũng, vào mùa nước, tạo thành một thác nước tuyệt đẹp mà bà con trong vùng gọi bằng một cái tên rất giản dị, gần gũi: “Thác số 6″.
Hạ Thành còn hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp hoang sơ, bình yên của khu sinh thái Suối Tiên. Nơi đây có địa hình tương đối bằng phẳng, lòng suối rộng, hai bên suối là những khu đồi thấp, nổi lên những tảng đá nguyên thủy mồ côi khổng lồ, đan xen trong những rừng cọ già cùng hệ động thực vật phong phú.
Dulichgo
Ngoài những cánh đồng bậc thang màu mỡ, tiếng cối giã gạo bằng sức nước, tiếng cá Bỗng đớp mồi dưới ao, tiếng mõ trâu, tiếng gà gáy, những món ăn đặc sản hương vị quê hương như: Cá Bỗng nướng, thịt lợn đen hun khói, gà đồi, dê núi, vịt bầu.
Cá Bỗng được người dân nơi đây quý trọng và nâng niu như của cải có giá trị, họ dâng lên trời đất, tổ tiên để tỏ lòng kính trọng. Tục lệ dùng cá Bỗng để cúng trong những ngày lễ của người Tày đã có từ rất lâu đời.
Vào ngày 5/5 và ngày 12/11 âm lịch hàng năm, người ta thường dùng cá Bỗng để cúng tạ trời đất và tổ tiên vì một vụ mùa bội thu, cuộc sống sung túc. Ngày 5/5 âm lịch, tất cả các nhà bà con dân tộc thường nấu xôi nếp và cá Bỗng nướng để cúng. Còn ngày 12/11 âm lịch, đồng bào thường có phong tục làm bánh cá, cũng là để cúng lễ thần linh, tổ tiên, ông bà, cha mẹ.
Nơi đây còn lưu giữ các phong tục tập quán và những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Tày như: Nhạc cụ, trang phục, các điệu hát cọi, hát then… Con người hồn hậu, chất phác, phong cảnh thiên nhiên hữu tình, khí hậu trong lành mát mẻ…
Dulichgo
Đồng bào dân tộc Tày thôn Hạ Thành sống trong những nếp nhà sàn mái cọ. Bên nhà thường có một ao nhỏ, nước chảy róc rách. Khi du lịch cộng đồng hình thành và phát triển ở Hà Giang, Hạ Thành cũng hòa mình vào luồng không khí mới. Từ đầu thôn đến cuối xóm, mọi người cùng dọn dẹp, trang trí cửa nhà sạch sẽ, gọn gàng từ trong nhà ra đến tận cổng.
Trong thôn có 4 – 5 hộ gia đình làm dịch vụ lưu trú cho khách du lịch đến thăm quan, tìm hiểu về phong tục, văn hóa dân tộc của thôn. Ngoài chăm chỉ, cần mẫn việc đồng áng, người dân Hạ Thành còn rất yêu văn nghệ. Cả ngày vất vả với ruộng, với nương, tối về người dân Hạ Thành lại cùng nhau say sưa trong điệu hát then, hát cọi, trong tiếng đàn tính, đàn bầu.
Dulichgo
Xung quanh làng là những đồi cọ xanh biếc, trên những thủa ruộng bậc thang mấp mô những tảng đá cuội nguyên thủy; có dòng suối chảy từ đỉnh núi thôn Khuổi Mi xuống thung lũng với nhiều tảng đá to, phía tây của thôn là khu rừng nguyên sinh.
Những ngôi nhà sàn truyền thống nguyên sơ, những câu hát lượn, hát cọi, hát then ngọt ngào, những điệu múa dân gian, múa tín ngưỡng, những lễ hội truyền thống huyền bí, tạo cho bạn một cảm giác như trở về nơi cội nguồn của dân tộc.
Hạ Thành trở thành một điểm dừng chân lý tưởng cho du khách khi đến với Hà Giang. Đến Hạ Thành, Quý khách được trải nghiệm, được sinh hoạt cùng người dân Hạ Thành, được đắm mình trong câu cọi, điệu then, được thưởng thức những đặc sản của nông thôn miền núi.
My life! tổng hợp từ Dân Trí, Travel VZN, Vietnamtourism... và nhiều nguồn khác.
Đình thờ Nguyễn Trung Trực - Rạch Giá
Đình thờ Nguyễn Trung Trực nằm ngay sát cửa biển, rợp mát bóng bồ đề xanh tốt. Mặt đình quay ra cửa biển và cách biển khoảng 100m, trên đường Nguyễn Công Trứ, phường Vĩnh Thanh, TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Đình được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia theo Quyết định số 191 ngày 22/3/1988.
Tuy ngắn ngủi nhưng cuộc đời Nguyễn Trung Trực đã hóa thành những trang sử chói lọi trong lịch sử dân tộc cũng như trong truyền thuyết Việt Nam. Những truyền thuyết ấy nảy sinh từ những địa phương mà Nguyễn Trung Trực đã từng đánh giặc và từng sống như Long An, Kiên Giang. Ông đã để lại cho hậu thế với hai chiến công oai hùng nhất:
< Bức tượng Nguyễn Trung Trực được đúc bằng đồng oai nghiêm.
- Ngày 10/12/1861: đốt tàu Espérence trên sông Nhật Tảo.
- 4h sáng ngày 16/6/1868, Nguyễn Trung Trực chỉ huy nghĩa quân kết hợp với nội ứng tấn công đồn Kiên Giang, triệt hạ đồn hoàn toàn, quan Pháp đầu tỉnh cùng đồng bọn phải đền tội.
Sau những chiến công vang dội, giặc Pháp tăng cường truy sát Ông cùng nghĩa quân. Nguyễn Trung Trực đã cùng nghĩa quân rút ra đảo Phú Quốc lập căn cứ kháng chiến lâu dài.
Dulichgo
Qua nhiều trận chiến đấu ác liệt, ngày 19/9/1868 Ông đã bị giặc bắt. Dù bị tù đày, tra tấn, Ông vẫn hiên ngang với khí phách của người Anh hùng. Ngày 27/10/1868, thực dân Pháp đưa Ông ra pháp trường Rạch Giá (nay là bưu điện Rạch Giá). Đồng bào Tà Niên đã dệt và trải chiếu bông kín con đường Ông ra pháp trường. Người dân hết sức đau đớn, yêu thương, kính trọng tiễn đưa Ông. Dù mất đi nhưng danh thơm của Nguyễn Trung Trực mãi mãi trường tồn cùng lịch sử với câu nói được coi là chân lý: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”.
Để mãi tưởng nhớ đến công lao của vị AHDT, nhân dân Kiên Giang đã lập đình thờ Ông. Ngôi đền được xây dựng năm 1964 khánh thành năm 1970, tọa lạc tại số 08 Nguyễn Công Trứ, phường Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá.
< Khu chính điện có bức chân dung thờ Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực.
Đình hình chữ Tam, có cổng dạng tam quan, trước cửa chánh điện có một lư hương bằng đá, ngày 15/9/2000 nhân dân đã thỉnh tượng “Cụ” về thờ trước cửa chánh điện. Trên nóc mái đình được trang trí cảnh lưỡng long tranh trân châu, các góc mái đắp hình lá cúc tần cách điệu và hình rồng. Tất cả các mảng phù điêu trên được làm bằng xi măng cẩn những mảnh gốm nhiều màu. Cửa đình có hai cột đắp nổi hình rồng uốn lượn từ dưới lên quấn quanh cột biểu tượng cho quyền uy và sức mạnh.
Dulichgo
Đình có rất nhiều bài vị thờ, phía trong có 3 ngai thờ chính. Chính giữa là ngai thờ Nguyễn Trung Trực, bên trái là ngai thờ Phó cơ Nguyễn Hiền Điều, Phó lãnh binh Lâm Quang Ky, bên phải thờ Thần Nam Hải Tướng Quân.
< Khách thập phương đến thắp hương.
Đình Nguyễn Trung Trực chưa phải là ngôi đình cổ nhất, song đình thật sự là trung tâm sinh hoạt văn hóa của nhân dân bởi hình ảnh Ông đã ăn sâu vào tâm thức và tâm linh người dân nơi đây. Vì thế, hàng trăm năm nay, nhân dân quen gọi ông bằng Cụ và xem như chỗ dựa tin cậy khi đau ốm, đi xa, làm ăn…Có rất nhiều gia đình thờ Cụ trong nhà như ông bà.
Hàng năm, vào ngày 26-28/8 âm lịch, hàng trăm ngàn đồng bào các nơi về Kiên Giang dự lễ giỗ của Ông. Một nét đẹp dễ nhận thấy ở lễ hội truyền thống Nguyễn Trung Trực là sự đa sắc tộc, đa tín ngưỡng và đa tôn giáo, đến tham gia Lễ hội Nguyễn Trung Trực, người dân ai cũng cảm thấy hồ hỡi, rạo rực như quên hết những âu lo, cực nhọc thường ngày, hòa nhập vào không khí thiêng liêng của Lễ, náo nhiệt của Hội… qua đó thể hiện lòng biết ơn của mình với tiền nhân, những người có công với làng xã, quê hương, đất nước và thể hiện tinh thần gắn bó cộng đồng, hướng đến những ước mơ tốt đẹp.
Người dự Hội cảm nhận được sự ấm áp, hòa quyện vào không gian thiêng liêng của Lễ hội, xem vụ Nguyễn Trung Trực như là người cha tinh thần, thành tâm như con cháu cúng giỗ ông bà của mình, mọi người cùng sửa sang, lau chùi lại Đình thờ, không phân biệt giàu nghèo, dang hèn, người về dự giỗ cụ đều tự nguyện nhiệt tình tham gia các công việc phục vụ lễ giỗ như: nấu cơm, chế biến thức ăn, pha nước uống, dọn dẹp, lau rửa, thậm chí sơ cấp cứu cho những trường hợp bị bệnh tật bất ngờ, v.v… đây là một mô hình Lễ hội độc đáo của khu vực mang tính cộng đồng rấy cao, người đi Hội cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng hưởng thụ những thành quả lao động mà mình đã góp phần trong Lễ hội.
Dulichgo
Người đi Hội từ khắp nơi mang về cùng Đình những gì họ có thể để thể hiện tấm lòng sùng kính: tài vật, rau củ, hoa quả, gạo, bột ngột (mì chính), đường, nước đá v.v.. trong số những người dự Lễ còn có những người là hậu duệ của cụ Nguyễn đến từ các địa phương như Long An, Tiền Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Tp. Hồ Chí Minh, thậm chí từ Bình Định ở miền Trung, v.v.. cũng về dự lễ giỗ của cụ. Theo lệ, sau lễ giỗ, những đồ vật dân cúng của nhân dân đều được sử dụng để cứu tế cho dân nghèo, đồng bào bị thiên tai, viện dưỡng lão, tổ chức các bữa ăn từ thiện trong Bệnh viện, Hội bảo trợ trẻ em nghèo, cứu trợ dân nghèo ở vùng ven, ưu tiên cho đồng bào dân tộc v.v…
< Vào dịp kỷ niệm ngày mất của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, đông đảo khách thập phương về đây dự lễ.
Đặc biệt trong thời gian diễn ra Lễ hội người dân đi Hội đều được ăn uống miễn phí. Các dịch vụ ăn theo Lễ hội như nhà hàng, khách sạn đều giảm giá, tệ ăn xin, cờ bạc hầu như không có, kinh phí cho việc tổ chức Lễ hội hoàn toàn được xã hội hóa.
Ngoài Lễ hội, Đình còn thường xuyên tổ chức hoạt động khám, chữa bệnh miễn phí cho nhân dân, trung bình hiện mỗi ngày có khoảng 200 người đến khám bệnh, hốt thuốc điều trị. Tất cả mọi người ai cũng có thể vào khám bệnh và chữa bệnh tại đây. Vào chữa bệnh ở phòng thuốc nam này là không mất tiền. Có người lấy thuốc chữa bệnh ở đây kéo dài tới hơn 1 năm. Có người chữa khỏi bệnh ở đây rồi ngày ngày đến làm công quả phục vụ cho phòng thuốc. Có những bệnh nhân trước khi vào khám bệnh, họ vào chính điện làm lễ khấn nguyện với sự tín ngưỡng, cầu mong anh linh cụ Nguyễn Trung Trực phù hộ, độ trì cho mau lành bệnh.
Thuốc dùng để chữa bệnh tại Đình là các loại cây, cỏ sẵn có trong khu vực và được nhân dân đi lấy về theo hướng dẫn của những thầy thuốc của Đình. Tất cả thầy thuốc và người phục vụ ở đây làm việc không nhận tiền thù lao. Năm 2005 Đình Nguyễn Trung Trực được Chủ tịch nước Trần Đức Lương đến thăm và gửi thư khen ngợi. Có thể nói rằng hoạt động Lễ hội và khám, chữa bệnh miễn phí tại Đình Nguyễn Trung Trực có tính chất tâm linh và mang tính cộng đồng rất mạnh mẽ, xuất phát từ sự biết ơn và lòng tôn kính vị Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực cùng những giá trị đạo đức, nhân văn của ông để lại, chính yếu đó là sợi dây vô hình tập hợp, gắn kết tạo nên một Lễ hội độc đáo, ấm áp tình người
Theo Sở VVTT&DL Kiên Giang
My life!
Tuy ngắn ngủi nhưng cuộc đời Nguyễn Trung Trực đã hóa thành những trang sử chói lọi trong lịch sử dân tộc cũng như trong truyền thuyết Việt Nam. Những truyền thuyết ấy nảy sinh từ những địa phương mà Nguyễn Trung Trực đã từng đánh giặc và từng sống như Long An, Kiên Giang. Ông đã để lại cho hậu thế với hai chiến công oai hùng nhất:
< Bức tượng Nguyễn Trung Trực được đúc bằng đồng oai nghiêm.
- Ngày 10/12/1861: đốt tàu Espérence trên sông Nhật Tảo.
- 4h sáng ngày 16/6/1868, Nguyễn Trung Trực chỉ huy nghĩa quân kết hợp với nội ứng tấn công đồn Kiên Giang, triệt hạ đồn hoàn toàn, quan Pháp đầu tỉnh cùng đồng bọn phải đền tội.
Sau những chiến công vang dội, giặc Pháp tăng cường truy sát Ông cùng nghĩa quân. Nguyễn Trung Trực đã cùng nghĩa quân rút ra đảo Phú Quốc lập căn cứ kháng chiến lâu dài.
Dulichgo
Qua nhiều trận chiến đấu ác liệt, ngày 19/9/1868 Ông đã bị giặc bắt. Dù bị tù đày, tra tấn, Ông vẫn hiên ngang với khí phách của người Anh hùng. Ngày 27/10/1868, thực dân Pháp đưa Ông ra pháp trường Rạch Giá (nay là bưu điện Rạch Giá). Đồng bào Tà Niên đã dệt và trải chiếu bông kín con đường Ông ra pháp trường. Người dân hết sức đau đớn, yêu thương, kính trọng tiễn đưa Ông. Dù mất đi nhưng danh thơm của Nguyễn Trung Trực mãi mãi trường tồn cùng lịch sử với câu nói được coi là chân lý: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”.
Để mãi tưởng nhớ đến công lao của vị AHDT, nhân dân Kiên Giang đã lập đình thờ Ông. Ngôi đền được xây dựng năm 1964 khánh thành năm 1970, tọa lạc tại số 08 Nguyễn Công Trứ, phường Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá.
< Khu chính điện có bức chân dung thờ Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực.
Đình hình chữ Tam, có cổng dạng tam quan, trước cửa chánh điện có một lư hương bằng đá, ngày 15/9/2000 nhân dân đã thỉnh tượng “Cụ” về thờ trước cửa chánh điện. Trên nóc mái đình được trang trí cảnh lưỡng long tranh trân châu, các góc mái đắp hình lá cúc tần cách điệu và hình rồng. Tất cả các mảng phù điêu trên được làm bằng xi măng cẩn những mảnh gốm nhiều màu. Cửa đình có hai cột đắp nổi hình rồng uốn lượn từ dưới lên quấn quanh cột biểu tượng cho quyền uy và sức mạnh.
Dulichgo
Đình có rất nhiều bài vị thờ, phía trong có 3 ngai thờ chính. Chính giữa là ngai thờ Nguyễn Trung Trực, bên trái là ngai thờ Phó cơ Nguyễn Hiền Điều, Phó lãnh binh Lâm Quang Ky, bên phải thờ Thần Nam Hải Tướng Quân.
< Khách thập phương đến thắp hương. Đình Nguyễn Trung Trực chưa phải là ngôi đình cổ nhất, song đình thật sự là trung tâm sinh hoạt văn hóa của nhân dân bởi hình ảnh Ông đã ăn sâu vào tâm thức và tâm linh người dân nơi đây. Vì thế, hàng trăm năm nay, nhân dân quen gọi ông bằng Cụ và xem như chỗ dựa tin cậy khi đau ốm, đi xa, làm ăn…Có rất nhiều gia đình thờ Cụ trong nhà như ông bà.
Hàng năm, vào ngày 26-28/8 âm lịch, hàng trăm ngàn đồng bào các nơi về Kiên Giang dự lễ giỗ của Ông. Một nét đẹp dễ nhận thấy ở lễ hội truyền thống Nguyễn Trung Trực là sự đa sắc tộc, đa tín ngưỡng và đa tôn giáo, đến tham gia Lễ hội Nguyễn Trung Trực, người dân ai cũng cảm thấy hồ hỡi, rạo rực như quên hết những âu lo, cực nhọc thường ngày, hòa nhập vào không khí thiêng liêng của Lễ, náo nhiệt của Hội… qua đó thể hiện lòng biết ơn của mình với tiền nhân, những người có công với làng xã, quê hương, đất nước và thể hiện tinh thần gắn bó cộng đồng, hướng đến những ước mơ tốt đẹp.
Người dự Hội cảm nhận được sự ấm áp, hòa quyện vào không gian thiêng liêng của Lễ hội, xem vụ Nguyễn Trung Trực như là người cha tinh thần, thành tâm như con cháu cúng giỗ ông bà của mình, mọi người cùng sửa sang, lau chùi lại Đình thờ, không phân biệt giàu nghèo, dang hèn, người về dự giỗ cụ đều tự nguyện nhiệt tình tham gia các công việc phục vụ lễ giỗ như: nấu cơm, chế biến thức ăn, pha nước uống, dọn dẹp, lau rửa, thậm chí sơ cấp cứu cho những trường hợp bị bệnh tật bất ngờ, v.v… đây là một mô hình Lễ hội độc đáo của khu vực mang tính cộng đồng rấy cao, người đi Hội cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng hưởng thụ những thành quả lao động mà mình đã góp phần trong Lễ hội.
Dulichgo
Người đi Hội từ khắp nơi mang về cùng Đình những gì họ có thể để thể hiện tấm lòng sùng kính: tài vật, rau củ, hoa quả, gạo, bột ngột (mì chính), đường, nước đá v.v.. trong số những người dự Lễ còn có những người là hậu duệ của cụ Nguyễn đến từ các địa phương như Long An, Tiền Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Tp. Hồ Chí Minh, thậm chí từ Bình Định ở miền Trung, v.v.. cũng về dự lễ giỗ của cụ. Theo lệ, sau lễ giỗ, những đồ vật dân cúng của nhân dân đều được sử dụng để cứu tế cho dân nghèo, đồng bào bị thiên tai, viện dưỡng lão, tổ chức các bữa ăn từ thiện trong Bệnh viện, Hội bảo trợ trẻ em nghèo, cứu trợ dân nghèo ở vùng ven, ưu tiên cho đồng bào dân tộc v.v…
< Vào dịp kỷ niệm ngày mất của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, đông đảo khách thập phương về đây dự lễ.
Đặc biệt trong thời gian diễn ra Lễ hội người dân đi Hội đều được ăn uống miễn phí. Các dịch vụ ăn theo Lễ hội như nhà hàng, khách sạn đều giảm giá, tệ ăn xin, cờ bạc hầu như không có, kinh phí cho việc tổ chức Lễ hội hoàn toàn được xã hội hóa.
Ngoài Lễ hội, Đình còn thường xuyên tổ chức hoạt động khám, chữa bệnh miễn phí cho nhân dân, trung bình hiện mỗi ngày có khoảng 200 người đến khám bệnh, hốt thuốc điều trị. Tất cả mọi người ai cũng có thể vào khám bệnh và chữa bệnh tại đây. Vào chữa bệnh ở phòng thuốc nam này là không mất tiền. Có người lấy thuốc chữa bệnh ở đây kéo dài tới hơn 1 năm. Có người chữa khỏi bệnh ở đây rồi ngày ngày đến làm công quả phục vụ cho phòng thuốc. Có những bệnh nhân trước khi vào khám bệnh, họ vào chính điện làm lễ khấn nguyện với sự tín ngưỡng, cầu mong anh linh cụ Nguyễn Trung Trực phù hộ, độ trì cho mau lành bệnh.
Thuốc dùng để chữa bệnh tại Đình là các loại cây, cỏ sẵn có trong khu vực và được nhân dân đi lấy về theo hướng dẫn của những thầy thuốc của Đình. Tất cả thầy thuốc và người phục vụ ở đây làm việc không nhận tiền thù lao. Năm 2005 Đình Nguyễn Trung Trực được Chủ tịch nước Trần Đức Lương đến thăm và gửi thư khen ngợi. Có thể nói rằng hoạt động Lễ hội và khám, chữa bệnh miễn phí tại Đình Nguyễn Trung Trực có tính chất tâm linh và mang tính cộng đồng rất mạnh mẽ, xuất phát từ sự biết ơn và lòng tôn kính vị Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực cùng những giá trị đạo đức, nhân văn của ông để lại, chính yếu đó là sợi dây vô hình tập hợp, gắn kết tạo nên một Lễ hội độc đáo, ấm áp tình người
Theo Sở VVTT&DL Kiên Giang
My life!
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)









































